Vòng tuần hoàn của đá – đá magma, đá trầm tích, đá biến chất
Lát cắt một vùng có núi, núi lửa, sông, biển và mảng đại dương hút chìm. Chọn hoặc chạm vào một mẫu đá rồi bấm từng quá trình: phong hoá, bóc mòn và vận chuyển, lắng đọng, nén chặt và gắn kết, nhiệt độ và áp suất cao, nóng chảy, nguội chậm dưới sâu hay phun trào nguội nhanh, nâng lên. Mẫu đi theo đúng đường trên hình và đổi thành granit, bazan, cát kết, đá vôi, đá phiến sét, đá hoa, quaczit, đá phiến lợp…; kính phóng to cho thấy kích thước tinh thể, cấu tạo hạt; trục thời gian cho biết mỗi bước kéo dài bao lâu.
Chủ đề Trái Đất (Địa lí 10) yêu cầu trình bày vật liệu cấu tạo vỏ Trái Đất: khoáng vật và ba nhóm đá magma, trầm tích, biến chất. Mô phỏng dựng một lát cắt có núi, núi lửa, sông, biển, mảng đại dương hút chìm, buồng magma và vùng nhiệt độ, áp suất cao để thấy các nhóm đá chuyển hoá lẫn nhau thành một vòng tuần hoàn.
Học sinh chọn mẫu xuất phát (granit, bazan, magma, cát kết, đá phiến sét, đá vôi) hoặc chạm vào mẫu trên hình, rồi bấm các quá trình hợp lệ ở vị trí đó. Magma nguội chậm dưới sâu cho đá hạt thô, phun trào nguội nhanh cho đá hạt mịn; chọn loại magma giàu hay nghèo silic để so granit với riolit, gabro với bazan. Kính phóng to cho thấy cấu tạo hạt của từng loại đá; nhật kí ghi từng bước với thời gian trong tự nhiên, trục thời gian logarit so sánh độ dài các quá trình từ vài ngày tới hàng trăm triệu năm. Nút Tự đi cho mẫu đi ngẫu nhiên nhiều vòng.
Câu hỏi gợi ý:
– Vì sao granit có tinh thể to còn bazan có tinh thể rất nhỏ?
– Từ đá vôi, cần những quá trình nào để có đá hoa?
– Quá trình nào trong vòng tuần hoàn diễn ra nhanh nhất, quá trình nào chậm nhất?
Tham số điều chỉnh được
- Tốc độ hình động (0,5–3 lần)
- Loại magma
- Mẫu đá xuất phát
- Hiện chú thích trên hình