Kẻ săn mồi – con mồi: chu kì thỏ tuyết và linh miêu
0
Chạy mô phỏng
Cần đăng nhập để mở; tài khoản miễn phí.
Luôn dùng bản mới nhất; khi bạn sửa lần đầu mới tạo bản riêng, bản gốc không đổi.

Kẻ săn mồi – con mồi: chu kì thỏ tuyết và linh miêu

Quần thể thỏ tuyết và linh miêu biến đổi theo mô hình Lotka–Volterra có sức chứa cho thỏ. Cánh đồng tuyết hiện từng con vật, đồ thị số lượng theo thời gian đánh dấu các đỉnh và độ trễ giữa đỉnh thỏ và đỉnh linh miêu, đồ thị pha vẽ quỹ đạo quanh điểm cân bằng. Thanh trượt đổi tỉ lệ sinh, hệ số săn mồi, tỉ lệ chết và sức chứa; nút săn bắt linh miêu và dịch bệnh ở thỏ tạo biến cố.

Bài Quần thể sinh vật và bài Quần xã sinh vật thuộc chủ đề "Sinh vật và môi trường" (Khoa học tự nhiên 8): quan hệ vật ăn thịt – con mồi làm số lượng hai quần thể dao động có chu kì. Mô hình Lotka–Volterra: thỏ sinh sản với tỉ lệ b và bị giới hạn bởi sức chứa K, linh miêu bắt thỏ với hệ số a, sinh thêm con nhờ thức ăn và chết với tỉ lệ d. Với số liệu mặc định, chu kì khoảng 10 năm, giống chu kì nổi tiếng của thỏ tuyết và linh miêu ở rừng phương bắc. Bấm chạy và quan sát: thỏ tăng trước, linh miêu tăng theo sau, thỏ giảm vì bị ăn nhiều, rồi linh miêu giảm vì thiếu mồi. Đồ thị số lượng đánh dấu các đỉnh và ghi độ trễ giữa đỉnh thỏ và đỉnh linh miêu; đồ thị pha vẽ quỹ đạo vòng quanh điểm cân bằng, chạm vào đồ thị pha để đặt số lượng mới. Kéo các thanh trượt, chọn mô hình cổ điển không giới hạn để so sánh, bấm Săn bắt linh miêu hoặc Dịch bệnh ở thỏ để xem hai quần thể phản ứng. Câu hỏi gợi ý: – Vì sao đỉnh số lượng linh miêu luôn đến sau đỉnh số lượng thỏ? – Săn bắt bớt linh miêu có làm số thỏ tăng mãi không? Vì sao? – Tăng hệ số săn mồi a thì điểm cân bằng của thỏ và linh miêu thay đổi thế nào?

Tham số điều chỉnh được

  • Sức chứa môi trường K (500–6000 con thỏ)
  • Hệ số săn mồi a (0,005–0,05 /linh miêu/năm)
  • Tỉ lệ sinh của thỏ b (0,3–1,5 /năm)
  • Tỉ lệ chết của linh miêu d (0,2–1 /năm)
  • Số thỏ ban đầu (50–800 con)
  • Số linh miêu ban đầu (5–100 con)
  • Mô hình